TRÍ và TÂM
TRÍ PHÂN BIỆT và TÂM PHÂN BIỆT
  
 -------

Trang  (1)  (2)
 
Trong các tôn giáo chữ Tâm thường được nói tới như là đối tượng chính của sự tu sửa, đó là "tu tâm". Riêng trong Phật giáo chữ Tâm được nhắc đến nhiều nhất, ta thường nghe "Phật tại tâm", "bình thường tâm thị đạo", "nhất thiết duy tâm tạo", ..., bởi cái đích cuối cùng của sự tu sửa là giác ngộ, giác ngộ là Phật, mà Phật thì tại Tâm.... Trong Thánh Kinh Ki-tô giáo, chữ Tâm ẩn trong những lời nói của Chúa Jesus, những dụ ngôn, những câu chuyện.
 
Tâm lý là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” (1)
 
Tâm là nơi đưa ra cái tình cảm của mỗi người đối với thế giới hiện tượng bên ngoài tiếp nhận được qua các giác quan. Thế giới hiện tượng bên ngoài có tính khách quan, nhưng tình cảm của mỗi người mỗi khác nên mang tính chủ quan. Khi nhìn một bông hoa nào đó, về tính chất vật lý, sự "nhìn thấy" của ai cũng giống như ai, đó là một hiện tượng khách quan, nhưng có người "thích", có kẻ "ghét", có người "mê", có kẻ lại "dửng dưng chẳng yêu chẳng ghét". Thích, ghét, mê, dửng dưng... là tình cảm của mỗi người, có tính cách hoàn toàn chủ quan, đối với hiện tượng khách quan ấy. Những tình cảm như thế phát xuất từ nơi mà ta gọi là TÂM, mỗi người thể hiện mỗi khác bởi lý do riêng, nên gọi là tâm lý.
 
"Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm". (Nguyễn Du) 
 
Cùng một làn sóng âm thanh rót vào tai, nhưng người thì vui, người thì buồn. Tâm lý mỗi người khác nhau tuy cùng tiếp xúc chung với một hiện tượng khách quan.

Ý niệm nhanh chậm của "thời gian" cũng bị ảnh hưởng của tâm lý. Thời gian chỉ trên cái đồng hồ cứ thế trôi đi một cách khách quan không hề mang ý niệm nhanh hay chậm, nhưng mỗi con người, tùy hoàn cảnh và tình cảm, lại có cái cảm giác khác nhau về sự nhanh chậm của thời gian. Đó là cái nhìn chủ quan của mỗi người đối với một hiện tượng khách quan.

Cũng có khi tình cảm ở TÂM tác dụng ngược lại với một hiện tượng khách quan. Ví dụ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” ! Tâm sự buồn làm cho người thấy cảnh cũng buồn. Nếu mang tâm sự vui thì hẳn cảnh cũng vui theo. Thế nhưng cảnh đó vẫn là cảnh đó, vẫn là như thế, như như, như vậy,… nó là một hiện tượng khách quan. Thế sao cảnh đó lại có buồn có vui? ─ Là cái nhìn theo tình cảm chủ quan của mỗi người đối với hiện tượng khách quan đó, phát xuất từ nơi mà ta gọi là TÂM. Nếu không bị chi phối bởi cái tâm buồn vui, ta sẽ thấy rõ cái khách quan của hiện tượng, đó là cái nhìn của TRÍ.  Cái Trí là cửa sổ đưa các hiện tượng khách quan vào Tâm, và cái Tâm sinh ra cái nhìn chủ quan là những tình cảm như yêu, ghét, vui, buồn, ân, oán..., và sai khiến lại cái Trí.

Và trong Phật giáo cũng nói về cái khách quan và chủ quan ấy, trong đoạn kinh sau đây trích trong kinh Tương Ưng Bộ:
 
"...kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, thời (sinh ra -->) sầu muộn, (rồi sinh ra -->) than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
 .... bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ, thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm."

"Cảm thọ về thân" (thân thọ) (2) qua giác quan có tính khách quan, ai cũng cảm nhận như ai, còn "cảm thọ về tâm" (tâm thọ) (2) mang tính tình cảm rất là chủ quan vì tùy mỗi người, người có người không, nếu có thì cũng ở mức độ khác nhau.

Giải thích: 
 
-- Mỗi con người đời thường (kẻ vô văn phàm phu), luôn có cả hai cảm thọ là "thân thọ" và "tâm thọ" ("cảm thọ về thân" và "cảm thọ về tâm"). Ngay sau khi cảm nhận "thân thọ" thì --> "tâm thọ" (buồn, vui, yêu, ghét, ân, oán...) phát sinh tiếp theo, và --> sai khiến lại cái thân hành động theo (than vãn, khóc lóc, trả thù...).
 
-- Với những vị đã có một trình độ tu tập nào đó (bậc Đa văn Thánh đệ tử), có thể đã loại bỏ được "tâm thọ" mà chỉ còn "thân thọ" mà thôi, cho nên không bị những tình cảm làm khuấy động, gây phiền não. Họ chỉ cảm nhận cái hiện tượng khách quan y như nó như vậy, không kèm theo hoan hỉ, sầu muộn, yêu, ghét, ân oán... cho nên không có những hành động tiếp theo do sự thúc đẩy của các tình cảm ấy (như than vãn, khóc lóc, trả thù...)
 
Phân tích đoạn kinh này cũng cho ta một ý niệm về chữ "TÂM": Khi tiếp nhận một "cảm thọ khổ về thân", ở người bình thường (phàm phu), TÂM phát sinh ra tình cảm "sầu muộn" (cảm thọ về TÂM), để rồi sai khiến lại cái thân thành hành động "than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi tới bất tỉnh". Như vậy, ta có một ý niệm về chữ TÂM như sau:
 
TÂM là nơi phát sinh ra tình cảm (sầu muộn, hoan hỉ, yêu, ghét,...)
khi thân cảm nhận các hiện tượng khách quan bên ngoài.
 
Trong một tai nạn, một cô gái bị thương tích trên mặt, cô cảm nhận cái đau nơi thân thể vì vết thương, đó là "cảm thọ về thân". Bất kỳ ai bị thương như thế thì cũng đều có cảm thọ đau ấy. Đấy là một hiện tượng khách quan.
 
-- Với một cô gái đơn giản, ví dụ một vị nữ tu, không trọng bề ngoài, không sợ vết thương làm xấu dung nhan của mình, thì ngoài cái cảm giác đau, tức là "cảm thọ về thân", cô không buồn rầu, không than trách, oán hận, nuối tiếc..., tâm cô bình thản, và cô biết rằng cái đau rồi sớm muộn gì cũng qua đi.
 
-- Nhưng với một cô gái khác trọng bề ngoài, yêu qúi sắc đẹp của mình vì đó là lợi khí trong tình yêu, trong nghề nghiệp, thì ngoài "cảm thọ về thân" là cái đau thân xác ai cũng như ai (khách quan), cô còn buồn rầu, than vãn, trách móc, hối tiếc, oán hận... vì vết thương làm giảm sắc đẹp của cô, sẽ làm cô mất nhiều thứ. Đó là "cảm thọ về tâm" (là chủ quan, vì tùy người).
 
Như vậy sau khi tiếp nhận cái đau thể xác (thân), từ TÂM của cô sinh ra --> tình cảm "buồn rầu, hối tiếc, giận hờn, oán ghét...", tiếp tục nữa là --> TÂM sai khiến lại trí óc và thân xác hành động "than vãn, trách móc, và có thể là trả thù...". Đó là những phiền não, chúng quấy phá cô gái này, trong khi với vị nữ tu có tâm tư đơn giản kia thì không vướng phải.
  
1.- TRÍ và TÂM.

Con người gồm phần THÂN xác và TINH THẦN (3). Riêng phần tinh thần ta có thể phân ra TÂM và TRÍ, hai lãnh vực riêng biệt nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. TRÍ hay lý trí xuất phát từ khối óc, còn TÂM thiên về tình cảm, xuất phát từ một nơi nào đó trong con người, nhưng thường được cho là từ con tim, có lẽ vì con tim nhạy cảm nhất đối với những biến chuyển của các hiện tượng bên ngoài. Ở đây người viết không nói tới chữ tâm trong khoa tâm lý học, vì không rành. 

Trong tình yêu, nhất là tình yêu giữa chàng và nàng, sự khác biệt giữa chữ TÂM và chữ TRÍ khá rõ. Khi một người đang yêu nồng thắm, thì cho dù có một đối tượng nào khác, được trí óc đánh giá là đẹp hơn, giàu hơn, giỏi hơn... người ấy cũng không hề có toan tính một sự trao đổi, mà vẫn chỉ một mực sống chết với người yêu của mình, người ta nói đó là lý lẽ của con tim, bởi tình yêu là tình cảm xuất phát từ con tim, hay là TÂM, chứ không phải khối óc hay là TRÍ.

Thử một ví dụ khác, bạn đang có một chiếc xe, nhưng nếu có người cho bạn được đổi một chiếc khác cùng loại (không trả thêm tiền) mà trí óc bạn đánh giá là mới hơn, tốt hơn, tiện nghi hơn, đẹp hơn, thì chín mươi chín phần trăm là bạn sẽ đổi. Đó không phải là tình cảm từ TÂM, mà là cái hợp lý từ suy nghĩ của khối óc, hay là TRÍ, ngoại trừ trường hợp cái xe cũ của bạn có một giá trị khác, có khi là vô giá đối với bạn, ví dụ  như đó là vật kỷ niệm của một người thân nào đó để lại cho bạn, bởi "kỷ niệm" mang ý nghĩa tình cảm lại thuộc lãnh vực của con tim, hay là TÂM.

Có những sự việc ta phải đặt cả tâm và trí vào để giải quyết, ví dụ một đứa con nhỏ đang bệnh thì thường bà mẹ dồn cả TÂM TRÍ (tình cảm [tâm] và trí óc) vào việc chăm sóc nó. Cũng có những sự việc chỉ cần trí óc để giải quyết thôi, ví dụ sửa chữa một cái xe, thường chỉ cần óc quan sát, sự kinh nghiệm, tài khéo léo...

Bây giờ thử phân tích thêm một chút về hai chữ TÂM và TRÍ.

2.- TRÍ và TRÍ PHÂN BIỆT: Năm giác quan và khả năng suy nghĩ của khối óc.

Nhờ năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), con người tiếp xúc với ngoại cảnh, ghi nhận tất cả các hiện tượng tương ứng bên ngoài (hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc giác) để phục vụ cho đời sống của mình.

Tuy nhiên các hiện tượng bên ngoài ấy luôn thay đổi, chuyển dịch, biến thiên, biến chuyển, dời đổi, biến hóa… gọi tắt là “biến dịch”, và con người nhờ “khả năng suy nghĩ của khối óc” để phân tích, giải thích, tổng hợp, đánh giá các “biến dịch” ấy, bằng cách đặt và trả lời những câu hỏi: Tại sao? Khi nào? Ở đâu? Cái gì? Thế nào? Đó là khả năng đặc biệt của con người, cũng là sự khác biệt với các sinh vật khác. 

Chỉ với năm giác quan, sự ghi nhận ngoại cảnh còn đơn giản, ví dụ khi ta nhìn một cái cây trong vườn, mắt ta ghi nhận hình ảnh cái cây ấy, để trợ giúp các hành động khác như đi tới thì tránh né không bị đụng, nếu cần thì hái trái để ăn, khi ăn thì mùi vị được ghi nhận..., và hình ảnh, vị trí, cùng tính chất của nó được lưu trữ lại trong óc để sử dụng lại khi cần.

Với khả năng suy nghĩ của khối óc ("ý căn" nói trong Phật giáo), con người có thêm khả năng giải thích, phân tích, tổng hợp, đánh giá các hiện tượng và những “biến dịch” của chúng ở mức độ cao hơn là sự ghi nhận thuần túy của năm giác quan. Ví dụ như mắt nhìn mưa rơi, tia chớp, tai nghe tiếng mưa, tiếng sấm... hình ảnh và tiếng động được ngũ quan ghi lại như một máy quay phim, nhưng với khả năng suy nghĩ của khối óc (ý căn), dựa vào kinh nghiệm cũ và suy luận mới, cho ta một số ý niệm mới, chẳng hạn như nguyên nhân của trận mưa, của tiếng sấm của tia chớp, mưa có lợi, có hại ra sao cho đời sống ra sao, hành trình của nước mưa như thế nào ... Đó là khoa học, một hướng đi của cái TRÍ.

Tất cả những hoạt động của năm giác quan cùng khả năng suy nghĩ của khối óc, gọi chung là cái TRÍ, ta có thể ví như hoạt động của một máy điện toán siêu hạng: ghi nhận dữ kiện, phân tích, giải thích, sắp xếp, so sánh... và nhờ đó giải quyết một hay nhiều yêu cầu nào đó trong các nhu cầu của cuộc sống, và lại tiếp tục lưu trữ như là những kinh nghiệm về sau. Hoạt động của bộ máy ngày càng sắc xảo hơn do nhu cầu tiến hóa và để nâng cao cuộc sống, từ đó đưa tới sự biết so sánh (phân biệt) : nhiều-ít, tốt-xấu, dài-ngắn, nhanh-chậm ... và đưa con người tới sự lựa chọn cái gì phù hợp nhất với đời sống con người. Khả năng so sánh để lựa chọn ấy gọi là TRÍ PHÂN BIỆT, và sự phân biệt này hoàn toàn có tính khách quan.

3.- TÂM và TÂM PHÂN BIỆT. 

Tâm là nơi phát xuất những tình cảm của con người: vui buồn, yêu, ghét, hận, thù, tham lam, ganh tị, kiêu hãnh .... Những tình cảm này đều phát sinh từ sự phân biệt giữa "NGƯỜI" khác và "TA", với ý niệm cho rằng chỉ có cái TA là đáng tôn qúy nhất, ưu tiên nhất, là đúng nhất. Đấy là TÂM PHÂN BIỆT NHÂN NGÃ, hay tổng quát hơn là TÂM PHÂN BIỆT, là cái tâm nhị nguyên đầu tiên, cái nhìn phân hai: một bên là TA (hơn) một bên là NGƯỜI (không bằng). 

Tưởng tượng khi con người đầu tiên mới xuất hiện, giống như ông Adam ở trong vườn Eden, hẳn là chưa có ý niệm gì về yêu ghét, hận thù, tham lam, ghen tị.... Lúc đó cái tâm còn trống trải, chỉ có cái TRÍ hoạt động giúp con người trong cuộc sống, rất là bình thường, hàng ngày làm việc, đói thì tìm ăn, khát thì tìm uống, mệt thì nghỉ, buồn ngủ thì ngủ ... Và theo cuộc sống, TRÍ óc của con người cũng tiến hóa theo thời gian.

Nhưng chẳng đơn giản mãi như thế, có Adam rồi có thêm Eve, lại có thêm những con người khác... Trong sinh hoạt chung nhau như vậy, mới đầu cũng chỉ có cái TRÍ phân biệt cho thấy ngoài "ta" ra, còn có "người khác" cùng sinh sống với ta, giống như ta ghi nhận hình ảnh của cái cây, của bông hoa, của con bướm, của ngọn núi, con sông...Đó chỉ là sự ghi nhận thuần túy, gọi là "tánh thấy" đơn thuần, giác quan ghi nhận ra sao thì nó như vậy, "nó thực như đang là ...", đó là những hiện tượng khách quan qua cái nhìn của TRÍ.

 Thế rồi tới một lúc nào đó, có thể là do cuộc sống chung đụng phức tạp khó khăn hơn, TÂM con người phát khởi sự phân biệt về tình cảm giữa "Người" và "Ta", tự cho cái "Ta" là đáng yêu nhất, phải được coi trọng, là đúng nhất, phải được tôn quí hơn "Người" khác ..., từ đó ta chỉ chú ý tới quyền lợi của ta, niềm hạnh phúc của ta mà quên đi quyền lợi và hạnh phúc của người khác (gọi là ích kỷ, vị kỷ...). Như vậy "cái TA to lớn" là yếu tố tình cảm đầu tiên nẩy sinh và ngự trị trong TÂM con người.

 Đó là lúc khởi đầu của TÂM PHÂN BIỆT NHÂN-NGÃ , ta gọi là lúc KHỞI TÂM PHÂN BIỆT. Kể từ đấy, những tình cảm khác cứ kế tiếp khởi sinh như : tham lam, sân hận, ghen tỵ, kiêu hãnh, yêu, ghét, sợ hãi, thiện, ác, thân, sơ....trên cái gốc là tâm phân biệt nhân-ngã, sẽ xin được giải thích rõ hơn ở các mục dưới. 

 Từ cái gốc là tâm phân biệt nhân-ngã, vì yêu chính bản thân ta hơn người, ta bắt đầu biết vun đắp, và chỉ lo vun đắp cho chính bản thân TA và những gì thuộc về TA (ngã và ngã sở), lo lôi kéo những lợi ích về cho TA, đó là "ích kỷ", làm cái gì cũng vì bản thân TA trước,  đó là "vị kỷ" hay "vị ngã", cho "cái TA" là nhất gọi là "tự cao" hay "tự tôn", chỉ yêu mình trên hết, gọi là "tự ái".

 Vì tự cho cái TA là hơn hết, quyền lợi ta là trên hết, nên xuất hiện cái khuynh hướng muốn chiếm lĩnh những gì được trí óc đánh giá là “đẹp”, là “hơn” vể cho ta. Ai cũng mang cái TA to lớn như thế cả ! Thế là sự xung đột vì tranh giành, đụng chạm bắt đầu, và bắt nguồn cho mọi lo lắng phiền não, cùng những niềm vui, hạnh phúc (khi được) ,và nỗi buồn, đau khổ (nếu mất). Mọi phiền não đều do TÂM sinh ra là vậy (nhất thiết duy tâm tạo) !

Vì là nơi cái "TA to lớn" ngự trị, TÂM có thể được ví như một vị hoàng đế, bởi vì "duy ngã độc tôn" (chỉ có ta là tôn qúy hơn cả), còn TRÍ như các vị quần thần do hoàng đế sai khiến. Nếu cái TRÍ u mê (si), chỉ biết răm rắp nghe theo, thì tai họa sẽ xảy ra. Còn nếu cái TRÍ mà sáng suốt biết nhận định phải trái để mà can gián, lái vị hoàng đế đi trên con đường thiện, thì mọi sự tốt đẹp hơn. Đấy là ý trong 2 câu đầu Kinh Pháp Cú của Phật Giáo :

 1. Tâm dẫn đầu các pháp.Tâm là chủ, tạo tác.Nếu nói hay hành động,Với tâm niệm bất tịnh,Khổ não liền theo sau,Như xe theo bò vậy.
2. Tâm dẫn đầu các pháp.Tâm là chủ, tạo tác.Nếu nói hay hành động,Với tâm niệm thanh tịnh,An lạc liền theo sau,Như bóng chẳng rời hình.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, những từ ngữ thuộc về tâm và trí cũng được phân biệt ra khá rõ ràng. Phần lớn các từ ngữ có chữ đứng trước là Óc, Trí, Tài, thường là thuộc về lãnh vực của chữ TRÍ; những từ ngữ có chữ đứng trước là Tâm, Lòng, Tính (Tánh), Tình, thường là thuộc lãnh vực tình cảm của TÂM. Ví dụ:

-- Những từ ngữ thuộc TRÍ : trí hiểu biết, trí thông minh, óc sáng suốt, óc sáng tạo, óc nhận xét, óc phân tích, óc lanh lợi, trí xét đoán, óc đần độn, óc ngu si, tài tháo vát, tài tiên đoán, tài ăn nói...

-- Những từ ngữ thuộc về TÂM: lòng tham lam, tâm sân hận, tính keo kiệt, lòng bác ái, lòng vị tha, lòng ghen tị, lòng kiêu hãnh, tính khiêm nhường, lòng ích kỷ, lòng tự tôn, lòng tự ái, lòng tự trọng, lòng tha thứ, lòng nhân đức, tính ác độc, lòng hy sinh, tính tự cao, lòng sợ hãi, lòng đau khổ, tâm hạnh phúc, lòng hân hoan, tâm si mê, tình yêu thương...

Sự phân chia này cũng tương đối, nên cũng có từ vừa mang ý của TRÍ vừa mang nghĩa của TÂM, ví dụ ta nói "óc kỳ thị chủng tộc" hoặc "lòng kỳ thị" thì cũng mang nghĩa của yêu/ghét./.

Trong bài viết kế tiếp (Trang 2), ta tìm thử hậu qủa của tâm phân biệt nhân ngã.

 Trang  (1)  (2)

                        Home            Top 
 
 Duy Đức
(June-2008)
 
Ghi Chú:

(1) Tác giả câu nói là Lê-nin. Câu này trích lại trong bài luận văn tốt nghiệp Vài nét về Tâm lý học phổ thông và Tâm lý học Phật giáo của NS Thích Nữ Hương Nhũ.

(2) "Cảm thọ về thân" hay là "thân thọ": (cũng có thể hiểu như sự cảm nhận một hiện tượng vật lý) do thân xác cảm nhận khi lục căn tiếp xúc với lục trần. Mỗi cảm thọ về thân có thể có một trong ba tính chất : thọ lạc (cảm giác dễ chịu), thọ khổ (cảm giác khó chịu), xả thọ (không khổ không lạc). Cảm thọ về thân ở mỗi người thường là giống nhau, nên có tính khách quan. Ví dụ:

-- Bị dao cắt đứt tay, ai cũng cảm nhận cái đau thân xác, đó là "cảm thọ về thân" và là thọ khổ (đau), ai cũng như ai, nên mang tính khách quan.

-- Nghe một âm thanh chói tai, ta có cảm giác khó chịu, đó là thọ khổ. Nghe âm thanh nhẹ nhàng du dương, ta có cảm giác dễ chịu, đó là thọ lạc. Nghe một âm thanh bình thường khác, ta không thấy khó chịu cũng không dễ chịu, đó là xả thọ. Thường thì mọi người đều cảm nhận giống nhau, nên có tính khách quan.

Khi có một "cảm thọ về thân", mỗi con người đưa ra phản ứng khác biệt về tình cảm như "giận hờn, yêu ghét, oán than...". Đó là "cảm thọ về tâm" (tâm thọ) có tính chủ quan, vì người có người không, và mức độ cũng khác nhau. Với một bậc đã giải thoát rồi thì không còn cảm thọ tâm nữa (không giận hờn, yêu ghét, oán than...)

Xin trích một đoạn trong kinh Tương Ưng Bộ (Chương 1, Phẩm 4, đoạn 8), nói về "cảm thọ về thân" nhưng không sinh "cảm thọ về tâm" nơi đức Phật:"... Lúc bấy giờ chân Thế Tôn bị miểng đá bể đâm phải. Cảm thọ thế tôn mãnh liệt. Thân cảm thọ khổ đau, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt. Nhưng Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không phiền não.

  .... Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn: - Sa-môn Gotama thật là bậc sư tử. Và với tư cách sư tử, ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau ... không phiền não."

 (3)

1.- Có thể dùng chữ THÂN và TÂM để nói về con người: 
    
THÂN = Phần xác thịt (tứ đại) + TRÍ (các cảm giác từ ngũ quan + khả năng suy nghĩ của khối óc),  
         TÂM  = là tình cảm của con người. 

2.- Cũng có thể dùng hai cụm từ THÂN XÁC và TINH THẦN để chỉ một con người:
     THÂN XÁC = phần xác thịt (tứ đại)

         TINH THẦN  =  TRÍ + TÂM (TRÍ = các cảm giác từ ngũ quan + khả năng suy nghĩ của khối óc, TÂM = là tình cảm của con người)

 3.- Cũng thấy dùng cụm từ "THÂN năm uẩn" (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) để nói chung THÂN (tứ đại = sắc) + TRÍ và TÂM (thọ, tưởng, hành, thức).

 



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com